Thương mại điện tử từ mô hình Marketplace đến hiện tượng Uber?
Với mô hình thiết kế web thương mại điện tử truyền thống B2C (Business-to-Customer) trước kia, khách hàng chỉ cần đặt đơn hàng qua web thương mại điện tử hoặc thông qua smartphone là có thể mua được hàng. Tuy nhiên, với mô hình này các công ty thương mại điện tử phải đầu tư khá nhiều vào chủng loại và số lượng hàng, kho bãi và giao nhận (logistics). Đó là còn chưa kể đến những khoản đầu tư lớn vào việc thiết kế và vận hành trang web, sản xuất hình ảnh, quảng cáo trực tuyến với Google, Facebook... Và không phải công ty nào cũng có thể đầu tư nhiều đến vậy, họ cũng phải tính đến hiệu quả kinh tế cho mình. Vì vậy, mô hình sàn giao dịch thương mại điện tử (e-commerce Marketplace) ra đời.
Hai trang thương mại điện tử lớn nhất là Zalora và Lazada đã áp dụng mô hình này từ khá sớm, họ bắt đầu xây dựng website thương mại điện tử B2C tích hợp nhiều dịch vụ và đơn giản hóa các thao tác mua hàng, đặc biệt là bảo mật thông tin của khách hàng tốt hơn. Từ đó, họ chiếm được lòng tin từ người tiêu dùng.
Marketplace của họ “ký sinh” ngay trên trang web bán lẻ trực tuyến của mô hình B2C nên họ tận dụng được lượng truy cập, một số lượng lớn khách hàng và tài nguyên hiện có.
Mô hình Marketplace có nhiều ưu điểm vượt trội hơn mô hình B2C truyền thống. Đó là giảm chi phí đầu tư bởi khi có đơn hàng, công ty mới liên hệ nhà cung cấp để đóng gói và giao hàng; tối ưu hóa phương thức mua hàng và quản lý tốt vốn lưu động.
Việc xuất hóa đơn cho khách hàng là trách nhiệm của nhà cung cấp và điều này luôn được quy định rõ ràng có tính chất bắt buộc trong hợp đồng giữa công ty TMĐT và nhà cung cấp. Thứ hai, hoạt động song song với mô hình B2C, công ty TMĐT tận dụng được nguồn lực hiện có để xử lý đơn hàng và hoàn tất các dịch vụ hỗ trợ nhà cung cấp như vận hành (operations), sản xuất hình ảnh (production), giao vận (logistics), chăm sóc khách hàng (customer service)... Những công đoạn này thường là giống nhau ở cả hai mô hình B2C và Marketplace. Kế tiếp, thông qua hợp tác với nhà cung cấp, công ty TMĐT đa dạng hóa nguồn hàng, chủng loại hàng để từ đó giảm chi phí mua hàng và giá vốn hàng bán. Và cuối cùng, mô hình Marketplace luôn cho tỷ suất lợi nhuận gộp cao hơn từ phí dịch vụ tính trên phần trăm giá trị giao dịch thành công. Chính vì những ưu thế này mà cả Zalora lẫn Lazada cam kết đầu tư mạnh vào Marketplace. Những ưu thế này được sử dụng triệt để trong các đợt gọi góp vốn. Doanh thu và số đơn hàng từ Marketplace của Zalora và Lazada luôn có mức tăng hàng tháng từ hai con số trở lên và chiếm một tỷ lệ đáng kể trong tổng doanh thu.
Với mô hình Marketpalace, các nhà cung cấp cũng có những lợi thế nhất định khi được các công ty thương mại điện tử quảng bá thương hiệu và đưa sản phẩm đến gần hơn với người tiêu dùng. Công ty thương mại điện tử như là trung gian, cầu nối giữa người bán và người mua.
Với mô hình tương tự như Marketplace, tại sao Uber - sàn trung gian cho dịch vụ taxi lại bị phản đối từ các hiệp hội taxi?
Trước hết, phải thừa nhận là Uber không phải là công ty cung cấp dịch vụ vận chuyển taxi vì bản thân họ không sở hữu một chiếc xe nào, họ không ký hợp đồng thuê xe và cũng không ký hợp đồng lao động với bất kỳ tài xế nào. Uber đơn thuần chỉ là công ty công nghệ! Họ đầu tư và phát triển một hạ tầng công nghệ và một trình ứng dụng (application) trên điện thoại di động để kết nối khách hàng và công ty cung cấp dịch vụ vận chuyển. Mô hình này tương tự như mô hình Marketplace đang có tại Việt Nam.
Rõ ràng Uber không phải là công ty taxi mà chỉ đơn thuần là công ty cung cấp dịch vụ ứng dụng phục vụ cho việc kết nối giữa công ty vận tải với khách hàng. Về bản chất thì dịch vụ này không bị cấm hay bị hạn chế hoặc thuộc loại hình kinh doanh có điều kiện bởi các quy định hiện hành.
Ở khía cạnh thuế, nếu Uber chưa thành lập công ty lâu dài tại Việt Nam, doanh thu từ dịch vụ này sẽ phải chịu thuế nhà thầu (foreign contractor withholding tax) bao gồm cả thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập doanh nghiệp như bao loại hình dịch vụ khác có phát sinh thu nhập tại Việt Nam. Là công ty đa quốc gia, chắc chắn Uber phải tuân thủ vấn đề này!
Công ty vận tải trong nước có trách nhiệm, nghĩa vụ nộp thuế và tuân thủ các quy định có liên quan cho hoạt động kinh doanh vận tải của mình. Trước khi trả tiền dịch vụ cho Uber, họ phải có trách nhiệm giữ lại phần thuế nhà thầu và thay mặt Uber đóng vào ngân sách nhà nước. Điều này chắc chắn được quy định rõ ràng trong hợp đồng với Uber. Như bao công ty vận tải khác trong nước, họ phải ký hợp đồng thuê xe với các chủ xe có xe nhàn rỗi, kê khai và đóng các loại thuế và phí. Các công ty vận tải có trách nhiệm xuất hóa đơn tài chính khi khách hàng yêu cầu. Bên cạnh đó, để bảo đảm tính tuân thủ về thuế thu nhập cá nhân, họ cũng chính là người giữ và đóng thay phần thuế thu nhập của các tài xế. Tóm lại, hầu hết các nghĩa vụ nộp thuế theo mô hình trên đều nằm ở công ty vận tải trong nước.
Như vậy, một khi nắm rõ mô hình hoạt động của Uber và bản chất hoạt động kinh doanh của họ, chúng ta sẽ thấy được những mối quan hệ giữa các bên tham gia vào mô hình kinh doanh mới mẻ này. Và từ đó, các cơ quan nhà nước sẽ có cái nhìn thoáng hơn và quản lý nó chặt chẽ hơn. Mô hình kinh doanh Uber đang sử dụng tương tự như mô hình Marketplace. Marketplace được phép hoạt động hợp pháp tại Việt Nam. Thế thì tại sao Uber lại không được khuyến khích? Một câu hỏi mở chưa có lời đáp.
Xem thêm:



0 nhận xét: